VUI MỪNG CHÀO ĐÓN

0 khách và 0 thành viên

TÀI NGUYÊN

BÁO MỚI

THỐNG KÊ

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • SẮP XẾP DỮ LIỆU

    TRUYỆN CƯỜI

    Xem truyện cười

    HỌC ĐỂ BIẾT, HỌC ĐỂ LÀM, HỌC ĐỂ CHUNG SỐNG, HỌC ĐỂ TỰ KHẲNG ĐỊNH MÌNH !

    DANH NGÔN HÔM NAY

    Gốc > TÁC GIẢ VĂN HỌC >

    NHÀ VĂN TÔ HOÀI

    NHÀ VĂN TÔ HOÀI

     

     

    Tiểu sử:

    Tên thật: Nguyễn Sen.

    Sinh năm: 1920

    Nơi sinh: Hoài Đức - Hà Đông, nay là quận Cầu Giấy, Hà Nội.

    Bút danh: Tô Hoài, Mai Trang, Mắt Biển, Thái Yên, Vũ Đột Kích, Duy Phương, Hồng Hoa.

    Thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, ký.

    Các tác phẩm:

    ·           Dế mèn phiêu lưu ký (1941)   >> Chi tiết

    ·           Quê người (1941)

    ·           Ổ chuột (1942)   >> Chi tiết

    ·           Cỏ dại (1944)

    ·           Chiều chiều   >> Chi tiết

    ·           Ba người khác   >> Chi tiết

    ·           Tập truyện ngắn   >> Chi tiết

    ·           Truyện Tây Bắc (1953)

    ·           Mực tàu giấy bản   >> Chi tiết

    ·           Mười năm (1957)

    ·           Tắm đêm   >> Chi tiết

    ·           Một số kinh nghiệm viết văn của tôi (1959)

    ·           Nhật ký vùng cao (1969)

    ·           Chuyện cũ Hà Nội (1980)

    ·           Đảo hoang    >> Chi tiết

    ·           Kim đồng    >> Chi tiết

    ·           Cát bụi chân ai (1992)   >> Chi tiết

    Giải thưởng văn chương:

    ·           Giải nhất giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam cho tập “Truyện Tây Bắc”.

    ·           Giải thưởng Hoa Sen của Hội Nhà văn Á Phi cho tác phẩm ”Miền Tây” (năm 1970)

    Giới thiệu một tác phẩm:

    Vợ chồng A Phủ

    Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lý Pá Tra thường trông thấy một cô con gái ngồi quay sợi bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi. Người ta thường nói: nhà Pá Tra làm thống lý, ăn của dân nhiều, đồn Tây lại cho muối về bán, giàu lắm, nhà có nhiều nương, nhiều bạc, nhiều thuốc phiện nhất làng. Thế thì con gái nó còn bao giờ phải xem cái khổ mà biết khổ, mà buồn. Nhưng rồi hỏi ra mới rõ cô ấy không phải con gái nhà Pá Tra: cô ấy là vợ A Sử, con trai thống lý Pá Tra.

    Cô Mỵ về làm dâu nhà Pá Tra đã mấy năm. Từ năm nào, cô không nhớ, cũng không ai nhớ. Nhưng người nghèo ở Hồng Ngài thì vẫn còn kể lại câu chuyện Mỵ về làm người nhà quan thống lý. Ngày xưa, bố Mỵ lấy mẹ Mỵ không có đủ tiền cưới, phải đến vay nhà thống lý, bố của thống lý Pá Tra bây giờ. Mỗi năm đem nộp lãi cho chủ nợ một nương ngô. Đến tận khi hai vợ chồng về già rồi mà cũng chưa trả được nợ. Người vợ chết, cũng chưa trả hết nợ.

    Cho tới năm ấy Mỵ đã lớn, Mỵ là con gái đầu lòng. Thống lý Pá Tra đến bảo bố Mỵ:

    - Cho tao đứa con gái mày về làm dâu thì tao xoá hết nợ cho

    Ông lão nghĩ năm nào cũng phải trả một nương ngô cho người ta, thì tiếc ngô, nhưng cũng lại thương con quá. Ông chưa biết nói thế nào thì Mỵ bảo bố rằng:

    - Con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con phải làm nương ngô giả nợ thay cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu.

    Đến tết năm ấy, tết thì vui chơi, trai gái đánh pao, đánh quay rồi đêm đêm rủ nhau đi chơi. Những nhà có con gái thì bố mẹ không thể ngủ được vì tiếng chó sủa. Suốt đêm, con trai đến nhà người mình yêu, đứng thổi sáo xung quanh vách. Trai đến đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng Mỵ. Một đêm khuya, Mỵ nghe tiếng gõ vách, tiếng gõ vách hò hẹn của người yêu. Mỵ hồi hộp lặng lẽ quơ tay lên thì gặp hai ngón tay lách vào khe gỗ, sờ một ngón thấy có đeo nhẫn. Người yêu của Mỵ thường đeo nhẫn ngón tay ấy. Mỵ bèn nhấc tấm vách gỗ. Một bàn tay dắt Mỵ bước ra. Mỵ vừa bước ra lập tức có mấy người choàng đến, nhét áo vào miệng Mỵ rồi bịt mắt, cõng Mỵ đi.

    sáng hôm sau, Mỵ mới biết mình đang ngồi trong nhà thống lý Pá Tra. Họ nhốt Mỵ vào buồng. Ngoài vách kia, tiếng nhạc sinh tiền cúng ma đang rập rờn nhảy múa.

    Trong khi đó, A Sử đến nhà bố Mỵ. A Sử nói:

    - Tôi đã cướp được con gái bố làm vợ, tôi đem về cúng trình ma nhà tôi rồi, bây giờ tôi đến trình cho bố biết. Tiền bạc để cưới thì bố tôi bảo đã đưa cả cho bố rồi.

    Rồi A Sử về. Ông lão nhớ ngay câu nói của thống lý Pá Tra dạo trước: cho con gái về nhà thống lý Pá Tra thì được trừ nợ. Chao ôi! Thế là cha mẹ ăn bạc của nhà giàu từ kiếp trước, bây giờ người ta bắt bán con trừ nợ. Không thể làm thế nào khác được rồi!

    Có đến hàng mấy tháng, đêm nào Mỵ cũng khóc. Một hôm, Mỵ trốn về nhà, hai tròng mắt còn đỏ hoe. Trông thấy bố, Mỵ quỳ lạy, úp mặt xuống đất, nức nở. Bố Mỵ cũng khóc, đoán biết lòng con gái:

    - Mày về lạy chào tao để mày đi chết đấy à? Mày chết nhưng nợ tao vẫn còn, quan lại bắt tao trả nợ. Mày chết rồi thì không lấy ai làm nương ngô giả được nợ cho người ta, tao thì ốm yếu quá rồi. Không được, con ơi!

    Mỵ chỉ bưng mặt khóc. Mỵ ném nắm lá ngón xuống đất, nắm lá ngón Mỵ đã tìm hái trong rừng, Mỵ vẫn giấu trong áo. Thế là Mỵ không đành lòng chết. My chết thì bố Mỵ còn khổ hơn bao nhiêu lần bây giờ nữa. Mỵ đành trờ lại nhà thống lý.

    Lần lần, mấy năm qua mấy năm sau, bố Mỵ chết. Nhưng Mỵ cũng không còn tưởng đến Mỵ có thể ăn lá ngón tự tử nữa. Ở lâu trong cái khổ, Mỵ quen khổ rồi. Bây giờ thì Mỵ tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa, là con ngựa phải đổi ở cái tàu ngựa nhà này đến ở cái tàu ngựa nhà khác, ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi. Mỵ cúi mặt, không nghĩ ngợi nữa, mà lúc nào cũng chỉ nhớ đi nhớ lại những việc giống nhau, tiếp nhau vẽ ra trước mặt, mỗi năm mỗi mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại: Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì gặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp, và dù lúc đi hái củi, lúc bung ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi. Bao giờ cũng thế, suốt năm suốt đời như thế. Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày.

    Mỗi ngày Mỵ càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa. Ở cái buồng Mỵ nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng. Mỵ nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra đến bao giờ chết thì thôi.

    Trên đầu núi các nương ngô, nương lúa gặt xong, ngô lúa đã xếp yên đầy các nhà kho. Trẻ con đi hái bí đỏ, tinh nghịch, đã đốt những lều canh nương để sưởi lửa. Ở Hồng Ngài người ta thành lệ cứ ăn Tết khi gặt hái vừa xong không kể ngày tháng nào. Ăn tết như thế cho kịp lúc mưa xuân xuống thì đi vỡ nương mới. Hồng Ngài năm ấy ăn Tết giữa lúc gió thổi và cỏ gianh vàng ửng, gió và rét rất dữ dội.

    Nhưng trong các làng Mèo đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xoè như con bướm sặc sỡ. (…)Đám trẻ đợi Tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà. Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi. Mỵ nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi. Mỵ ngồi nhẩm thầm bài hát của người đang thổi:

    Mày có con trai con gái rồi

    Mày đi làm nương

    Ta không có con trai con gái

    Ta đi tìm người yêu

    Tiếng chó sủa xa xa. Những đêm tình mùa xuân đã tới.

    Ở mỗi đầu làng đều có một mỏm đất phẳng làm cái sân chơi chung ngày Tết. Trai gái trẻ con ra sân chơi ấy tụ tập đánh pao, đánh quay, thổi sáo, thổi khèn và nhảy.

    Cả nhà thống lí Pá Tra vừa ăn xong bữa cơm Tết cúng ma. Xung quanh, chiêng đánh ầm ĩ, người ốp đồng vẫn còn nhảy lên xuống, run bần bật. Vừa hết bữa cơm lại tiếp ngay bữa rượu bên bếp lửa.

    Ngày Tết, Mỵ cũng uống rượu. Mỵ lén lấy hũ rượu, cứ uống ừng ực từng bát. Rồi say, Mỵ lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng Mỵ thì đang sống về ngày trước. Tai Mỵ văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng. Ngày trước, Mỵ thổi sáo giỏi. Mùa xuân này, Mỵ uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mỵ uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mỵ.

    Rượu đã tan lúc nào. Người về, người đi chơi đã vãn cả. Mỵ không biết, Mỵ vẫn ngồi trơ một mình giữa nhà. Mãi sau Mỵ mới đứng dậy, nhưng Mỵ không bước ra đường chơi mà từ từ bước vào buồng. Chẳng năm nào A Sử cho Mỵ đi chơi Tết. Mỵ cũng chẳng buồn đi. Bấy giờ Mỵ ngồi xuống giường, trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng. Đã từ nãy, Mỵ thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Mỵ trẻ lắm. Mỵ vẫn còn trẻ. Mỵ muốn đi chơi. Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết. Huống chi A Sử với Mỵ, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau! Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mỵ sẽ ăn cho chết ngay chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại chỉ thấy nước mắt ứa ra. Mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường:

    Anh ném pao, em không bắt

    Em không yêu, quả pao rơi rồi…

    Lúc ấy, A Sử vừa ở đâu về, lại đang sửa soạn đi chơi. A Sử thay áo mới, khoác thêm hai vòng bạc vào cổ rồi bịt cái khăn trắng lên đầu. Có khi nó đi mấy ngày mấy đêm, nó còn muốn rình bắt mấy người con gái nữa về làm vợ. Cũng chẳng bao giờ Mỵ nói gì.

    Bây giờ Mỵ cũng không nói. M  ỵ đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng. Trong đầu Mỵ đang rập rờn tiếng sáo. Mỵ muốn đi chơi, Mỵ cũng sắp đi chơi. My quấn lại tóc, Mỵ với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách. A Sử đang sắp bước ra bỗng quay lại lấy làm lạ. Nó nhìn quanh, thấy Mỵ rút thêm cái áo. A Sử hỏi:

    - Mày muốn đi chơi à?

    Mỵ không nói. A Sử cũng không hỏi thêm nữa. A Sử bước lại, nắm Mỵ, lấy thắt lưng trói hai tay Mỵ. Nó xách cả một thúng sợi đay ra trói đứng Mỵ vào cột nhà. Tóc Mỵ xoã xuống, A Sử quấn luôn tóc lên cột làm cho Mỵ không cúi, không nghiêng đầu được nữa. Trói xong vợ, A Sử thắt nốt cái thắt lưng xanh ra ngoài áo rồi A Sử tắt đèn, đi ra, khép cửa buồng lại.

    Trong bóng tối, Mỵ đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói. Hơi rượu còn nồng nàn, Mỵ vẫn nghe tiếng sáo đưa Mỵ đi theo những cuộc chơi, những đám chơi. "Em không yêu, quả pao rơi rồi. Em yêu người nào, em bắt pao nào…" Mỵ vùng bước đi. Nhưng tay chân đau không cựa được. Mỵ không nghe tiếng sáo nữa. Chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách. Ngựa vẫn đứng yên, gãi chân, nhai cỏ. Mỵ thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa.

    Chó sủa xa xa. Chừng đã khuya, lúc này là lúc trai đang đến bên vách làm hiệu rủ người yêu dỡ vách ra rừng chơi. Mỵ nín khóc, Mỵ lại bồi hồi.

    Cả đêm ấy, Mỵ phải trói đứng như thế. Lúc thì khắp người bị dây trói thít lại, đau nhức. Lúc lại nồng nàn tha thiết nhớ. Hơi rượu toả. Tiếng sáo. Tiếng chó sủa xa xa. Mỵ lúc mê lúc tỉnh. Cho tới khi trời tang tảng rồi không biết sáng từ bao giờ.

    Mỵ bàng hoàng tỉnh. Buổi sáng âm âm trong cái nhà gỗ rộng. Vách bên cũng im ắng. Không nghe tiếng réo trong lò nấu lợn. Không một tiếng động. Không biết bên buồng quanh đấy, các chị vợ anh, vợ chú của A Sử có còn ở nhà, không biết tất cả những người đàn bà khốn khổ sa vào nhà quan đã được đi chơi hay là họ cũng đang phải trói như Mỵ. Mỵ không thế biết. Đời người đàn bà lấy chồng nhà giàu ở Hồng Ngài thì một đời con người chỉ biết đi theo đuôi con ngựa của chồng. Mỵ chợt nhớ lại câu chuyện người ta vẫn kể: Đời trước, ở nhà thống lý Pá Tra có một ngưòi trói vợ ba ngày trong nhà rồi đi chơi, khi về nhìn đến thì vợ chết rồi. Nhớ thế, Mỵ sợ quá, Mỵ cựa quậy xem mình còn sống hay chết. Cổ tay, đầu, bắp chân bị dây trói xiết lại, đau dứt từng mảng thịt.

    Có tiếng xôn xao phía ngoài, rồi một đám đông vào nhà. Thống lý Pá Tra xuống ngựa, cho thị sống (một chức việc đi hầu thống lý như người làm mõ thời trước) dắt ngựa vào tàu. Nghe như bọn họ có khiêng theo con lợn, hoặc một người phải trói, vừa vất huỵch xuống đất, cứ thở phè phè.

    A Sử chệnh choạng vào buồng, áo nó rách toạc một mảnh vai. Cái khăn xéo trắng loang lổ đầy máu, sụp xuống quanh trán. A Sử nằm lăn ra giường. Lát sau, thống lý Pá Tra bước vào, theo sau thống lý là một lũ thống quán (một chức việc như phó lý), xéo phải (như trưởng thôn) và một bọn thị sống vẫn thường ra vào hầu hạ, ăn thịt uống rượu, hút thuốc phiện nhà thống lý. Có người bấy giờ mới nhìn thấy Mỵ phải trói đứng trong cột. Nhưng cũng không ai để ý, họ xúm cả lại quanh giường A Sử. Pá Tra tay vẫn cầm cái roi ngựa, lại từ từ đi ra. Mỵ nhắm mắt lại, không dám nhìn. Mỵ chỉ nghe hình như có tiếng bố chồng gọi ra ngoài,. Mỵ hé nhìn ra, thấy chị dâu bước vào. Người chị dâu ấy chưa già nhưng cái lưng quanh năm phải đeo thồ nặng quá, đã còng rạp xuống. Người chị dâu đến cởi trói cho Mỵ. Sợi dây gai dưới bắp chân vừa lỏng ra, Mỵ ngã sụp xuống. Chị dâu nói khẽ vào tai Mỵ:

    - Mỵ! Đi hái thuốc cho chồng mày.

    Mỵ quên cả đau, đứng lên. Nhưng không nhích chân lên được, Mỵ phải ôm vai chị dâu, hai người khổ sở dìu nhau bước ra. Trong khi đi vào rừng tìm lá thuốc, Mỵ nghe chị dâu nói lại, mới biết chuyện A Sử đi chơi bị đánh vỡ đầu.

    Nửa đêm qua, A Sử vào làng tìm đến đám chơi có tiếng sáo, tiếng khèn. Nhiều trai làng ấy và các làng khác đã tới, chơi quay, thổi sáo suốt ngày, chập tối vừa xong chầu rượu trong nhà, bây giờ vẫn còn chưa chịu tan về. Lúc A Sử và chúng bạn kéo đến thì không còn ai chơi trong nhà nữa, vì bố mẹ và người trong nhà ấy đã đi ngủ. Nhưng người ra người vào còn dập dìu quanh ngõ. A Sử đứng ngoài, tức lắm. Nó bảo với một lũ khác, doạ đánh bọn trai lạ vẫn bám quanh nhà  đã khiến cho bọn A Sử bị vướng không thể vào được. Bọn A Sử ném đá vào vách. Ông bố trong nhà ra chửi. Bọn A Sử vẫn ném. Ông lão không dám ra nữa, liền vào trong cửa, bắn ra hai phát súng. Thế là tan  những đám hẹn. Nhưng cũng chưa người trai nào chịu về. Họ lại tản vào các nhà quen trong xóm. Để đợi sáng mai lại lên sân đánh pao với con gái trong xóm.

    Bọn A Sử cũng không chịu để cánh kia yên. Sáng sớm, khi họ vừa kéo ra đầu ngõ, bè lũ bạn A Sử đã kéo đến gây sự. A Sử  đi trước, nạm vòng bạc ở cổ rủ xuống những tua chỉ xanh đỏ mà chỉ riêng con cái nhà quan trong làng mới được đeo. A Sử hùng hổ bước ra. Bọn kia đứng dồn cả lại xôn xao:

    - Lũ phá đám ta đêm qua đây rồi.

    - A Phủ đâu? A Phủ đánh chết nó đi!

    Một người to lớn chạy vụt ra vung tay ném con quay rất to vào mặt A Sử. Con quay gỗ ngát lăng vào giữa mặt. Nó vừa kịp bưng tay lên, A Phủ đã xộc tới, nắm cái vòng cổ, kéo dập đầu xuống, xé vai áo, đánh tới tấp. Người làng nghe tiếng hò hét đổ ra. Thấy vậy, bọn trai làng tản hết lên rừng. Mấy người đuổi đón đầu A Phủ. A Phủ bị bắt sống, trói gô chân tay lại. Vừa lúc thống lý Pá Tra tới. Chúng nó sọc ngang cái gậy, khiêng A Phủ mang về ném xuống giữa nhà thống lý.

    Mỵ đi hái thuốc lá về, thấy trong nhà càng đông hơn lúc nãy. Ngoài sân, dưới gốc đào lại buộc thêm mấy con ngựa lạ. Mỵ đi cửa sau vào, lé mắt nhìn thấy một người to lớn quỳ trong góc nhà. Mỵ đóan đấy là A Phủ

    Bọn chức việc khắp vùng  Hồng Ngài đến nhà thống lý Pá Tra dự đám xử kiện. Các lý dịch, quan làng, thống quán, xéo phải đội mũ, quấn khăn, xách gậy, cưỡi ngựa kéo đến xử kiện và ăn cỗ.

    Trong nhà thống lý đã bày năm cái bàn đèn, khói thuốc phiện tuôn ra các lỗ cửa sổ tun hút xanh như khói bếp. Cả những người chức việc bên làng A Phủ cũng tới. Nhưng chỉ bọn con trai làng ấy phải ngồi khoanh tay canh A Phủ vì họ bị gọi sang hầu kiện, còn bọn chức việc thì nằm dài cả bên khay đèn. Suốt từ trưa cho tới hết đêm, mấy chục người hút. Trên nhất là thống lý Pá Tra, thống lý Pá Tra hút xong một lượt năm điếu, đến người khác hút, lại người khác hút, cứ thế lần lượt xuống tới bọn đi gọi người về dự kiện. Chỉ có đàn bà ngồi trong buồng hoặc đi lại bên ngoài dòm ngó đám xử kiện và A Phủ quỳ chịu tội ở xó nhà, là không được dự tiêc hút ấy. Lúc một loạt người vừa hút xong, Pá Tra ngồi dậy, vuốt ngược cái đầu trọc dài, kéo đuôi tóc ra đằng trước cất giọng lè nhè gọi:

    - Thằng A Phủ ra đây.

    A Phủ ra quỳ giữa nhà. Lập tức, bọn trai làng xô đến, trước nhất chắp tay lạy lia lịa tên thống lý Pá Tra rồi quay lại đánh A Phủ. A Phủ quỳ chịu đòn, chỉ im như cái tượng đá.

    Cứ mỗi đợt bọn chức việc hút thuốc phiện xong, A Phủ lại phải ra qùy giữa nhà, lại bị người xô đến đánh. Mặt A Phủ sưng lên, môi và đuôi mắt giập chảy máu. Người thì đánh, người thì quỳ lạy kể lể, chửi bới. Xong một lượt đánh, kể, chửi, lại hút. Khói thuốc phiện ngào ngạt tuôn ra các lỗ cửa sổ. Rồi Pá Tra lại ngóc cổ lên, vuốt tóc, gọi A Phủ… Cứ như thế, suốt chiều, suốt đêm, càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chửi, càng hút.

    Trong buồng bên cạnh, Mỵ cũng thức suốt đêm im lặng, ngồi xoa thuốc dấu cho chồng. Lúc nào Mỵ mỏi quá, cựa mình thì những chỗ lằn trói trong người lại đau ê ẩm. Mỵ lại gục đầu nằm thiếp đi. Khi đó, A Sử bèn đạp chân vào mặt Mỵ. Mỵ choàng thức, lại nhặt nắm lá thuốc, xoa đều đều trên lưng chồng. Ngoài nhà vẫn rên lên từng cơn kéo thuốc phiện, như những con mọt nghiến gỗ kéo dài, giữa tiếng người khóc, tiếng người kể lào xào, và tiếng đấm đánh huỳnh huỵch.

    Sáng hôm sau thì đám kiện đã xong. Một số người, chẳng biết từ bao giờ, đã ngủ ngáy ngay bên khay đèn, bọn séo phải đang bắc cái chảo đồng và xách ấm nước ra nấu thêm lạng thuốc để hút thêm ban ngày cho các quan làng thật tỉnh, các quan làng còn một tiệc ăn cỗ nữa.

    Thống lý Pá Tra mở tráp, lấy ra một trăm đồng bạc hoa xoè bày lên mặt tráp rồi nói:

    - Thằng A Phủ đánh người thì làng xử mày phải nộp vạ cho người, phải mày đánh là hai mươi đồng, nộp cho thống quán năm đồng, mỗi xéo phải hai đồng, mỗi người đi gọi các quan làng về hầu kiện năm hào. Mày phải mất tiền mời các quan hút thuốc từ hôm qua tới nay. Lại mất con lợn hai mươi cân , chốc nữa mổ để các quan làng ăn vạ mày. A Phủ, mày đánh con quan làng, đáng nhẽ làng xử mày tội chết nhưng làng tha cho mày được sống và nộp vạ. Cả tiền phạt, tiền thuốc, tiền lợn mày phải chịu một trăm bạc trắng. Mày không có trăm bạc thì tao cho mày vay để mày ở nợ. Bao giờ có tiền trả thì tao cho mày về, chưa có tiền giả thì tao bắt mày ở làm con trâu, con ngựa cho nhà tao. Đời mày, đời con, đời cháu mày tao cũng bắt thế, bao giờ hết nợ tao mới thôi. A Phủ! Lại đây nhận tiền quan cho vay.

    A Phủ lê hai cái đầu gối sưng bạnh lên như mặt hổ phù. A Phủ cúi sờ lên đồng bạc trên tráp trong khi Pá Tra đốt hương, lầm rầm khấn gọi ma về nhận mặt người vay nợ. Pá Tra khấn xong, A Phủ cũng nhặt xong bạc, nhưng nhặt xong lại để ngay cả xuống mặt tráp. Rồi Pá Tra lại trút cả bạc vào trong tráp.

    Con lợn vừa mua về cho A Sử thết làng ăn vạ đã kêu eng éc ngoài sân, từ lúc đếm tiền rồi, A Phủ không phải quỳ, phải đánh nữa. A Phủ đứng lên cầm con dao, chân đau bước tập tễnh cùng với mấy trai làng ra chọc tiết làm thịt lợn hầu làng. Trong nhà, thuốc phiện vẫn hút rào rào.

    Thế là từ đấy, A Phủ phải đi ở trừ nợ cho nhà quan thống lý Pá Tra. Đốt rừng, cày nương, cuốc nương, săn bò tót, bẫy hổ, chăn bò, chăn ngựa, quanh năm một thân một mình bôn ba rong ruổi ngoài gò ngoài rừng. A Phủ đương tuổi sức lực. Công việc làm hay đi săn, cái gì cũng làm phăng phăng. Không còn có lúc nào trở về làng bên. Nhưng A Phủ cũng chẳng muốn trở về làm gì bên ấy nữa.

    A Phủ cũng không phải người làng bên ấy. Bố mẹ đẻ A Phủ ở Hángbla. Năm xưa, làng Hángbla phải một trận bệnh đậu mùa, nhiều trẻ con, cả người lớn chết, có nơi chết cả nhà. Anh của A Phủ, em A Phủ chết, bố mẹ A Phủ cũng chết. Còn sót lại có một mình A Phủ. Làng chết và đói nhiều quá, có người làng đói bụng bắt A Phủ đem xuống bán đổi lấy thóc của người Thái dưới cánh đồng. A Phủ mới mười tuổi, nhưng A Phủ gan bướng, không chịu ở dưới cánh đồng thấp, A Phủ trốn lên núi, lưu lạc đến Hồng Ngài, đi làm cho nhà người, lần lữa mùa này sang mùa khác, chẳng bao lâu A Phủ đã lớn, đã biết đúc lưỡi cày, biết đục cuốc, lại cày giỏi và đi săn bò tót rất bạo. A Phủ khoẻ, chạy nhanh như ngựa, con gái trong làng nhiều người mê, nhiều người nói: "đứa nào được A Phủ cũng bằng có được con trâu tốt trong nhà, chẳng mấy lúc mà giàu" Người ta ao ước đùa thế thôi chứ phép rượu cũng chẳng to hơn phép làng, còn tục lệ cưới xin mà A Phủ thì không có bố mẹ, không có ruộng, không có bạc,  A Phủ không thể lấy nổi vợ. Tuy nhiên, đang tuổi chơi, trong ngày tết đến, dù A Phủ chẳng có quần áo mới như nhiều trai khác, A Phủ chỉ có độc một chiếc vòng vía lằn trên cổ A Phủ cũng cứ cùng trai làng đem sáo, khèn, đem con quay và quả pao, quả yến đi tìm người yêu ở các làng trong rừng.

    Vì thế mà sinh sự đánh nhau ở Hồng Ngài.

    Khi đó đang đói rừng. Hổ, gấu, cứ từng đàn ra phá nương, bắt mất nhiều bò ngựa. Nhà thống lý Pá Tra lúc nào cũng đầy ngựa trong tàu, trước cửa, đầy lưng trâu bò đứng chen chân trong cột cửa, và dê, chó, lợn nằm quanh nhà, ngày nào cũng lũ lượt hàng mấy chục con đi nương ăn, bây giờ gặp khi rừng đói thế này, mỗi khi bò ngựa đi nương, A Phủ phải ở lại trông. A Phủ phải ở lều luôn hàng tháng ngoài nương, đêm đến lại dồn bò ngựa về nằm chầu nhau ngủ xung quanh lều.

    Chẳng may, đã mấy ngày A Phủ mải mê đi bẫy dím, không đếm được ngựa. Hôm ấy vào rừng thấy vết chân hổ, A Phủ vội phóng ngựa chạy vờn quanh đàn, dồn chúng quần lại để đếm lại. Lùa hết về, đếm đầu thấy thiếu một con bò. A Phủ đếm lại mấy lần. Thiếu một con bò. A Phủ vội nhảo vào rừng, lần theo lốt chân hổ thì tìm ra được con bò đã bị hổ ăn thịt chỉ còn lại một nửa mình nằm ngay dưới một cây thông cụt. A Phủ nhặt mấy miếng thịt rơi quanh đấy rồi vác nốt nửa con bò về. Nghĩ bụng "con hổ này to lắm, hãy còn ngửi thấy mùi hôi quanh đây, ta về lấy súng đi tìm, thế nào cũng bắn được". Về đến nhà, A Phủ lẳng vai ném nửa con bò xuống gốc đào trước cửa, Pá Tra bước ra hỏi:

    - Mất mấy con bò?

    A Phủ trả lời tự nhiên:

    - Tôi về lấy súng, thế nào cũng bắn được con hổ này to lắm.

    Pá Tra hất tay, nói:

    - Quân ăn cướp làm mất bò tao. A Sử! Đem súng đi lấy con hổ về.

    Rồi Pá Tra quay lại, bảo A Phủ:

    - Còn mày ra ngoài kia lấy về đây một cái cọc, một cuộn dây mây. Tao trói mày đứng ở chỗ kia. Bao giờ chúng nó bắt được hổ về thì tao cho mày khỏi phải chết. Nếu không được hổ thì tao cho mày đứng chết ở đấy.

    A  Phủ cãi:

    - Cho tôi đi. Được con hổ ấy còn nhiều tiền hơn con bò, cho tôi khỏi tội.

    Pá Tra quát:

    - Lấy cọc dây mây về đây!

    Không nói nữa, như con trâu đã đóng lên tròng, A Phủ lẳng lặng ra vác cái cọc gỗ rồi lấy cuộn dây mây trên gác bếp xuống. Tự tay A Phủ đóng cái cọc gỗ xuống bên cột. Pá Tra vẫn đứng đấy, bấy giờ đẩy A Phủ vào chân cột, hai tay bắt ôm quặt lên. Rồi dây mây cuốn từ chân lên vai, chỉ còn cổ và đầu hơi hơi lúc lắc được. Đàn bà trong nhà, mỗi khi đi qua đều cúi mặt. Không một ai dám hỏi, cũng không ai dám nhìn ngang mắt.

    Đến đêm, A Phủ cúi xuống, nhay đứt hai vòng mây, nhích dần dây trói một bên tay. Nhưng mới được đến lúc ấy thì trời cũng vừa sáng. Pá Tra vào khám, quẳng thêm một vòng thòng lọng vào cổ. Thế là A Phủ không cúi, không còn lắc được nữa.

    A Sử và lính dõng của thống lý đi đuổi, không lùng bắt được con hổ. Thì cũng đã mấy ngày A Phủ phải trói đứng trong góc nhà. Đằng kia, bếp lò bung ngô cao ngang nhà vẫn hừng hực đỏ rực lửa, mỗi hôm hai buổi cơm, người ra người vào ăn uống tấp nập. A Phủ chỉ đứng nhắm mắt, cho tới đêm khuya.

    Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn, nếu không có bếp lửa sưởi kia thì Mỵ cũng đến chết héo. Mỗi đêm, Mỵ đã dậy ra thổi lửa hơ tay, hơ lửa, không biết bao nhiêu lần.

    Thường khi đến gà gáy sáng, Mỵ ngồi dậy ra bếp sưởi một lúc thật lâu thì các chị em trong nhà mới bắt đầu dạy ra dóm  là bung ngô, nấu cháo lợn. Chỉ chợp mắt được từng lúc, Mỵ lại thức sưởi lửa suốt đêm. Mỗi đêm, khi nghe tiếng phù phù thổi bếp,  A Phủ lại mở mắt, ngọn lửa sưởi bùng lên, cùng lúc ấy thì Mỵ cũng nhìn sang, thấy mắt A Phủ trừng trừng, mới biết A Phủ còn sống. Mấy đêm nay như thế. Nhưng Mỵ vẫn thản nhiên thổi lửa, hơ tay. Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy cũng thế thôi. Mỵ vẫn trở dậy, vẫn sưởi, chỉ biết chỉ còn ở với ngọn lửa. Có đêm A Sử chợt về, thấy Mỵ ngồi đấy, A Sử đánh Mỵ ngã ngay xuống cửa bếp. Nhưng đêm sau Mỵ vẫn ra sưởi như đêm trước.

    Lúc ấy đã khuya. Trong nhà đã ngủ yên, thì Mỵ trở dậy thổi lửa. Ngọn lửa bập bùng sáng lên, Mỵ lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại, Nhìn thấy tình cảnh như thế, Mỵ chợt nhớ lại đêm năm trước A Sử trói Mỵ, Mỵ cũng phải trói đứng thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được. Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết, nó bắt mình chết cùng thôi, nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này. Chúng nó thật độc ác. Cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi… Người kia việc gì mà phải chết thế, A Phủ… Mỵ phảng phất nghĩ như vậy.

    Đám than đã vạc hẳn lửa, Mỵ không thổi, cũng không đứng lên. Mỵ nhớ lại đời mình, Mỵ lại tưởng tượng như có thể một lúc nào, biết đâu A Phủ chẳng đã trốn được rồi, lúc ấy bố con Pá Tra sẽ bảo là Mỵ đã cởi trói cho nó, Mỵ liền phải trói thay vào đấy, Mỵ phải chết trên cái cọc ấy. Nghĩ thế, trong tình cảnh này, làm sao Mỵ cũng không thấy sợ…

    Lúc ấy, trong nhà đã tối bưng, Mỵ rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt, nhưng Mỵ tưởng như A Phủ đương biết có người bước lại… Mỵ rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây. A Phủ cứ thở phè từng hơi, không biết mê hay tỉnh. Lần lần, đến lúc gỡ được hết dây trói ở người A Phủ thì Mỵ cũng hốt hoảng, Mỵ chỉ thì thào được một tiếng "đi ngay…", rồi Mỵ nghẹn lại. A Phủ bỗng khuỵ xuống, không bước nổi. Nhưng trước cái chết có thể đến nơi ngay, A Phủ lại quật sức vùng lên, chạy.

    Mỵ đứng lặng  trong bóng tối.

    Rồi Mỵ cũng vụt chạy ra. Trời tối lắm. Nhưng Mỵ vẫn băng đi. Mỵ đuổi kịp A Phủ, đã lăn, chạy, chạy xuống tới lưng dốc, Mỵ nói, thở trong hơi gió thốc lạnh buốt:

    - A Phủ cho tôi đi.

    A Phủ chưa kịp nói Mỵ lại nói:

    - Ở đây thì chết mất.

    A Phủ chợt hiểu.

    Người đàn bà chê chồng đó vừa cứu sống mình.

    A Phủ nói: "đi với tôi". Và hai người lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi.

    (Tóm tắt phần còn lại: Hai người bỏ trốn sang Phiềng sa, thành vợ chồng và định cư ở đó. Quân Pháp sục tới, dân Phiềng sa lại hoang mang mất ổn định. A Châu, cán bộ đảng đã tìm đến. A Phủ kết nghĩa anh em với A Châu. Anh trở thành tiểu đội trưởng du kích, cùng đồng đội bảo vệ quê hương)

    Nơi xuất bản: NXB Văn học, 1960    


    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Thị Hồng @ 23:29 10/10/2009
    Số lượt xem: 312
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến