VUI MỪNG CHÀO ĐÓN

0 khách và 0 thành viên

TÀI NGUYÊN

BÁO MỚI

THỐNG KÊ

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • SẮP XẾP DỮ LIỆU

    TRUYỆN CƯỜI

    Xem truyện cười

    HỌC ĐỂ BIẾT, HỌC ĐỂ LÀM, HỌC ĐỂ CHUNG SỐNG, HỌC ĐỂ TỰ KHẲNG ĐỊNH MÌNH !

    DANH NGÔN HÔM NAY

    Gốc > TÁC GIẢ VĂN HỌC >

    NHÀ VĂN TẠ DUY ANH

    NHÀ VĂN TẠ DUY ANH

     

    Tiểu sử:

    Tên thật: Tạ Viết Dũng.

    Sinh năm: 1959

    Nơi sinh: Chương Mỹ - Hà Tây.

    Bút danh: Tạ Duy Anh, Lão Tạ, Bình Tâm.

    Thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết.

    Các tác phẩm:

    •     Bước qua lời nguyền (1990)

    •     Khúc dạo đầu (1991)

    •     Đi tìm nhân vật   >> Chi tiết

    •     Lão Khổ (1992)

    •     Hiệp sĩ áo cỏ

    •     Thiên thần sám hối   >> Chi tiết

    •     Luân hồi (1994)

    •     Tập truyện ngắn Người khác  >> Chi tiết

    •     Bến thời gian   >> Chi tiết

    Giải thưởng văn chương:

    Giới thiệu một tác phẩm:

    Xưa kia chị đẹp nhất làng

    Ngày ấy, chị Túc xinh lắm. Ở vào tuổi mười tám chị tươi rói như một bông hoa. Với thân hình thon thả, bờ vai chị tròn trịa, lẳn trong chiếc áo màu nâu tươi. Không biết bao nhiêu cặp mắt si mê đã đậu vào đó. Không biết bao nhiêu lời mây gió đã thoáng qua tai chị

    - Dừng lại đã nào…

    Tiếng một trai làng đuổi theo chị như tiếng gọi khắc khoải bật ra từ nơi sâu thẳm của một lồng ngực bị dồn ép. Chị Túc từ từ quay lại. Cặp môi chín mọng của chị khẽ mở ra, để lộ một nụ cười có sức hút mê mệt. Cặp mắt giống hai miếng cau bổ khéo của chị chớp chớp nhìn xuống đất. Chị xinh đẹp nhưng chẳng tự kiêu chút nào. Đáp lại tiếng gọi, chị chờ đợi. Nhưng rồi người gọi dường như kinh sợ trước một hình ảnh quá xa vời tựa cái ảo ảnh của một giấc mơ còn sót lại, cứ đứng ngây ra trước mặt chị.

    Chiều nào chị Túc cũng có mặt bên giếng nước. Người ta bảo con gái nết na không dám soi mình vào gương. Mỗi lần cúi xuống kéo gầu nước, chị bồn chồn với chính hình ảnh của chị tận đáy giếng. Sóng nước chập chờn, lung lay đùa giỡn với chị. Bất chợt chị ngước lên, phá ra cười một mình. Tiếng cười của chị vô tư như chính vẻ duyên dáng của chị. Thoáng cái đã thấy chị gánh hai thùng nước, chân trắng trần bước đi mềm mại. Lại có ai đó gọi, chị Túc nghiêng nghiêng mái đầu thay cho lời đáp.

    Trai làng lần lượt lên đường. Chiến tranh thò bàn tay vào lôi tuột đi các chàng trai mới chớm tuổi mười tám. Chị Túc sang tuổi hai mươi rồi hai lăm lúc nào chị không nhớ. Mỗi lần tiễn thanh niên lên đường là mỗi lần chị Túc khóc cạn nước mắt.

    Những đơn vị bộ đội ở đâu ầm ầm kéo đến làng tôi, ở lại vài tháng đủ để thương để nhớ. Rồi một buổi sáng nào đó khi chúng tôi tỉnh dậy họ đã biến đi như có phép. Một lần tôi thấy mẹ tôi vừa đọc thư vừa sụt sùi lau nước mắt. Mẹ chỉ bảo tôi như thư của chú Kiều từng ở nhà tôi. Lúc vắng mẹ, tôi mở trộm thư ra đọc. Tôi đánh vần cho bọn trẻ con cùng làng đang tròn mắt ra nghe.

    "… Cả tiểu đoàn em qua khỏi Quảng Trị chỉ còn vài chục người. Tụi nó đánh ác lắm chị ơi! Cả một vùng đất rộng mênh mông bị cày đi xới lại đến nỗi biến thành một thứ bột màu thuốc súng…".

    Ở cuối thư, sau khi đã "vĩnh biệt chị và các cháu" chú Kiều còn "à quên cho em gửi lời chào đến cô Túc".

    Ngày ấy, chúng tôi chưa hình dung được sự khốc liệt của những dòng miêu tả đó. Chiến tranh như con ngáo ộp mà chúng tôi rất sợ nhưng sẵn sàng cợt nhả trở lại. Hôm sau mẹ tôi đưa thư cho chị Túc. Chị nằm xoài ra giường hết sấp lại lật ngửa tờ giấy. Dường như lời thăm hỏi kia của chú Kiều chỉ là cái vỏ. Chị muốn tìm cái "bên trong" kia! Lúc chị trả lại thư cho mẹ tôi, khuôn mặt chị thoáng một chút bần thần. Nhưng cũng giống tụi trẻ chúng tôi, chị Túc không có nhiều thời gian để mà vẩn vơ. Cả làng lại cuốn vào đủ thứ lo toan để đón một đoàn quân khác. Các chú bộ đội cỡ tuổi chị Túc thường mượn cớ đến nhà tôi đánh cờ, nhưng hễ chị Túc bước vào là bàn cờ lập tức thuộc về chúng tôi. Chúng tôi có thể tuỳ ý đổi chỗ quân tốt cho quân tướng, thậm chí có thể đút cả xe pháo, mã… vào túi đem ra chỗ khác chơi trò lăn bánh xe…

    Sau mấy tháng, đơn vị bộ đội lại biến mất. Làng tôi lại hẫng đi độ nửa tháng, buồn nhớ mênh mông. Cảm giác trống vắng lây sang cả tụi trẻ con chúng tôi. Rồi cả làng lại ầm lên những tiếng hỏi nhau, tiếng bước chân chạy rầm rầm đến gõ cửa nhà nhau. Đấy là khi thư của các chú bộ đội gửi trở lại. Từng đám, từng túm quây lại hướng về ai đó đang căng lá thư ra đọc oang oang.

    Những gương mặt lo âu, mừng tủi, đan cài vào nhau tuỳ theo lứa tuổi. Chị Túc cũng nhận được một lá. Một lá thư đề ngoài bì dòng tên chị, viết hoa bằng nét chữ trận mạc. Ngay tối hôm đó, chị đến tìm mẹ tôi. Tuy mẹ tôi chỉ hơn chị dăm tuổi nhưng chị Túc phải gọi bằng thím. Dưới ánh lửa chập chờn của đêm tàn đông, gương mặt chị trở nên nghiêm trang sâu sắc lạ thường. Chừng lâu lâu im lặng, chị Túc lập cập lôi từ lồng ngực ra tấm phong bì tự gập. Chị liếc nhìn tôi thì thào:

    - Thằng cu ngủ chưa?

    - Chơi cả ngày, đặt mình xuống là ngủ như chó - tiếng mẹ tôi.

    - Cháu có chuyện này muốn nói với thím - giọng chị Túc phập phồng. Tuy mắt vờ nhắm nghiền nhưng tôi biết mẹ tôi đang tóm lá thư từ tay chị Túc. Mẹ tôi kéo ngọn đèn gần lại, lật ngược xuôi rồi đưa trả lại:

    - Đọc lên xem nào! Có hai thím cháu chứ ai mà sợ.

    - Thím không được hở ra với ai - Chị Túc mặc cả.

    - Con bé này, chuyện trẻ con!

    Chị Túc thở sâu mấy cái rồi bắt đầu đọc:

    "Quảng Trị ngày…

    Em yêu quý!".

    Chị Túc phải dừng lại để lấy hơi.

    - Của ai đấy?

    Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Văn học, 2002      

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Thị Hồng @ 23:25 10/10/2009
    Số lượt xem: 327
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến